Quảng Cáo
Từ khóa
học thanh nhạc, thu âm, phòng thu, chuyên nghiệp, Faith Music thanh nhạc cơ bản Giai điệu HỌC THỬ MIỄN PHÍ Piano nâng cao Organ luyện thi Piano luyện thi tổng quan về giọng, thanh nhạc Guitar luyện thi Ký - xướng âm, music faith Guitar 3-Các bài tập với dây 2 Hòa âm Phương pháp để hát tốt H.A 2 - Hợp âm Khái quát về âm nhạc, musicfaith, faithmusic Xướng âm thực hành 1 Guitar 2 - Đọc nhạc và note ở dây 1 và dây 2 văn hóa nghe nhạc giao hưởng tại việt nam xử lý ngôn ngữ việt nam trong thanh nhạc, thanh nhạc Oran cơ bản Piano cơ bản nhạc lý đơn giản, faithmusic, musicfaith, tân bình, faith music Guitar cơ bản Organ nâng cao Hòa âm 1 - Định nghĩa thanh nhạc nâng cao Mẫu luyện thanh Phân loại giọng người-Bộ dây tiếng-Kỹ thuật luyện giọng học phí faith music Hòa âm 3 - Chùm hợp âm Thanh nhạc luyện thi Piano đệm hát Thanh nhạc giao tiếp, thanh nhạc văn phòng Khái niệm - giọng hát các khái niệm nhạc lý Nhạc lý, faith music TN 3 - Bộ phận cung cấp làn hơi Nhạc lý cơ bản TN 2 - Sự cần thiết của việc luyện tập thanh nhạc Tác hại của máy lạnh trong học thanh nhạc nhịp điệu Luyện thanh giọng nam bảo vệ thính giác khi chơi nhạc,musicfaith, Khởi đầu với guitar Guitar nâng cao Hợp âm và cách xác định hợp âm chính của 1 bản nhạc

XỬ LÝ NGÔN NGỮ VIỆT NAM TRONG THANH NHẠC

http://musicfaith.net/cac-khoa-hoc/thanh-nhac

 
 
    Một bài hát gồm có Nhạc và Lời, trong đó lời ca là yếu tố nền tảng để xây dựng âm nhạc. Lời định hướng cho nhạc, để nhạc chắp cánh cho Lời. Vì thế, khi ca hát không rõ lời, là vô tình đánh mất yếu tố nền tảng, có khả năng miêu tả, trình bày chi tiết, cụ thể tình ý, nội dung của bài hát, yếu tố âm nhạc còn lại rất lẻ loi, sẽ không diễn tả được đầy đủ nội dung bài hát, có khi còn làm cho nó tệ hơn. Cho nên, hát rõ lời thuộc về bản chất của tiếng hát, nghĩa là đã hát thì cần phải rõ lời, nếu không thì nó cũng giống như nhạc không lời mà thôi.
    Cha ông ta trong tiếng hát dân ca hoặc cổ truyền, rất chú trọng đến việc hát rõ lời. “Thuật ngữ “tròn vành rõ chữ” là cách nói khái quát của cha ông ta về yêu cầu và quan niệm đối với nghệ thuật ca hát, và về kỹ thuật, phương pháp ca hát cổ truyền dân tộc. Tiếng hát “tròn vành” là âm thanh nghe gọn gàng, đầy đặn, trau chuốt sáng sủa ; “rõ chữ” là lời ca nghe rõ ràng, không phải đoán nghĩ mới hiểu, không thể hiểu lầm ra ý khác. “Tròn vành rõ chữ” vì vậy là sự kết hợp hài hoà giữa nghệ thuật âm nhạc và tiếng nói dân tộc, là sự nâng cao, làm đẹp, khai thác, phát huy đến cao độ tính tượng hình, tượng thanh và mọi đặc điểm ngữ âm dân tộc bằng nghệ thuật âm thanh của giọng hát.” [1]
    Như vậy, tiếng hát nào cũng phải bảo đảm được tính thông đạt, tính dân tộc và tính nghệ thuật. Sự thiếu rõ lời làm mất cả 3 tính. Nguyên nhân thiếu rõ lời có thể do :
1. Phát âm, cấu âm chưa đúng cách, lời ca nghe loáng thoáng chữ được chữ mất.
2. Cấu âm theo kiểu ca kịch Tây phương, tiếng hát nghe “ồm ồm , ngọng nghịu vì bắt chước nước ngoài một cách thiếu sáng suốt, nếu không nói là nô lệ” [2]
3. Lối viết các bè vào chống chất lên nhau mà hát lời ca khác nhau, âm vận và ý nghĩa khác nhau, nên vô hiệu hoá nhau.
 Ở đây chúng ta tìm cách khắc phục hai nguyên nhân đầu, bằng cách tìm hiểu xem phải xử lý (1) phụ âm đầu, (2) các loại vần và (3) các thanh điệu như thế nào để cho tiếng hát đẹp đẽ, vang khỏe mà vẫn rõ lời.
 
DÀN BÀI
 
I.  Xử lý phụ âm đầu
 II.  Xử lý các loại vần
III.  Xử lý thành điệu.
IV. Thực tập
V. Câu hỏi ôn tập
 
 
I. XỬ LÝ PHỤ ÂM ĐẦU
 
     1.  Nói chung, cách phát âm các phụ âm đầu trong ca hát giống như trong tiếng nói hằng ngày. Chỉ cần cấu âm cho đúng tiêu điểm như : môi bật môi, răng đụng môi, lưỡi đánh lên răng, chân răng, hàm ếch … thì âm đầu nối kết với vần sẽ rõ ràng. “Bật môi, đánh lưỡi” một cách linh hoạt và nhẹ nhàng, đó là bí quyết của các phụ âm. Cần tránh “lối hát gằn, xiết, rung, bật mạnh phụ âm đầu …, nói chung không tự nhiên, vì không phù hợp với tiếng Việt” [3]
      2. Đặc biệt cần uốn nắn sửa chữa một số cách cấu âm không đúng của một số địa phương đối với một số phụ âm đầu như :
 - s đọc thành x
- tr đọc thành ch
- l đọc thành n
- r đọc thành z hoặc g
 
II. XỬ LÝ CÁC LOẠI VẦN
 
    Như trên đó nói, người ta phân biệt hai loại vần chính, đó là vần đóng và vần mở. VẦN ĐÓNG tận bằng các âm cuối gồm bán âm i/y và u/o và các phụ âm cuối m – p, n – t, nh – ch, ng – c. Còn VẦN MỞ thì tận bằng các nguyên âm đơn hoặc nguyên âm phức ia, ưa, ua.
 
1. Vần mở :
 
Có 2 loại nhỏ : mở đơn và mở phức.
a) Vần mở bằng nguyên âm đơn (gọi tắt là mở đơn) : Các âm tiết không có âm cuối, mà chỉ tận bằng nguyên âm : e, ê, i/y, a ơ, ư, o, ô, u. Khẩu hình khi hát thường phải mở rộng hơn khi nói. Sau đây là khẩu hình các nguyên âm đơn khi luyện thanh :
o Các nguyên âm hàng giữa :
+ A : Được coi như nguyên âm mẹ, khẩu hình mở rộng vừa chiều cao vừa chiều ngang, cằm hạ xuống, mép hơi bành ra, tạo thành hình dáng bên ngoài hơi tròn hơn là bẹt. Răng dưới được môi che khuất, còn răng cửa phía trên có thể lộ ra ít nhiều tuỳ người. Mặt lưỡi bằng, đầu lưỡi tiếp giáp nhẹ với răng dưới. Khi đọc chữ A nét mặt vui như muốn cười (như tiếng reo vui A !, khi con tháy mẹ đi chợ về). Tập mở rộng cả khẩu hình phía trong bằng cách nâng hàm ếch mềm và hạ cuống lưỡi : tiếng vang tốt khi làn hơi phóng lên giữa vòm miệng.
+ Ơ : Là nguyên âm cùng hàng với A, nhưng khẩu hình hẹp hơn bằng cách nâng cằm lên.
+ Ư : Cũng là nguyên âm cùng hàng với A, nhưng khẩu hình hẹp hơn Ơ ; cằm nâng lên gần sát với hàm trên, nhưng răng không đụng nhau.
o Các nguyên âm hàng trước :
+ E : Khẩu hình không rộng bằng A, nhưng bẹt ra 2 mép, răng trên hơi lộ ra, lưỡi hơi đưa ra phía trước, mặt lưỡi hơi nhô lên.
+ Ê : Khẩu hình hẹp hơn E, cằm dưới hơi đưa ra, lưỡi nâng lên hơn một chút.
+ I/Y : Khẩu hình hẹp nhất trong hàng, 2 mép hơi giành ra như khi cười, răng lộ ra đôi chút, lưỡi nâng lên phía trước gần vòm miệng nhưng không đụng vào, răng sát nhau mà không chạm nhau.
* Các nguyên âm hàng sau :
+ O : Khẩu hình khá tròn, tuy không rộng bằng A, phần giữa của môi hơi nhô ra trước. Lưỡi rụt vào phía sau, mặt lưỡi cong lên gần che lấp lưỡi gà.
+ Ô : Môi nhô ra và chúm lại làm cho khẩu hình phía ngoài thu nhỏ hơn O. Nhưng khẩu hình phía trong mở dọc xuống nhờ hạ lưỡi và nâng hàm ếch mềm.
+ U : Môi chúm lại, nhô ra như khi ta muốn huýt sáo : Khẩu hình thu nhỏ nhất so với O.
Lưu ý :
- Vị trí cộng minh của e – ê – i ở phía trước, vị trí cộng minh của o – ô – u ở phía sau trong miệng, còn vị trí cộng minh của a – ơ – ư ở phía giữa miệng. Khi muốn cho âm thanh phóng ra phía trước, người ta thường mượn âm sắc của các âm hàng trước để hát các âm hàng giữa và hàng sau (xem lại mẫu luyện thanh 10 và 11 : mượn vị trí của I để hát A – Ô rồi trở lại Ê).
- Khi ngân dài ở nguyên âm đơn, phải giữ nguyên khẩu hình cho đến hết dấu nhạc mới thôi. Nếu không, sẽ làm cho âm sắc tối lại và dễ làm xuống giọng.
b. Vần mở bằng nguyên âm phức (gọi tắt là mở phức) : ia (ya), ưa, ua.
Khẩu hình ban đầu mở theo các nguyên âm hẹp của mỗi hàng (i – ư – u), có thể kéo dài trên các yếu tố đầu này khi cần, rồi mở rộng hơn sang các âm vừa và dừng lại ở âm Ơ, chứ không mở rộng sang đến âm A như chính tả ghi :
- CHIA có thể ngân CHIIIÊƠ
- CHƯA có thể ngân CHƯƯƯƠ
- CHUA có thể ngân CHUUUÔƠ
Thí dụ 1 :
  
Lưu ý :
- Khi mở đơn cũng như khi mở phức mà có âm đệm, thì luôn luôn lướt mau từ khẩu hình tròn môi “U” rồi sang nguyên âm chính ngay, chứ không dừng lại trên âm đệm được. Đây là cách để phân biệt âm đệm với yếu tố đầu của âm phức :
- Các vần mở đơn gồm có :
OA (toa, qua)
OE (toe, que)
ƯƠ (thuở, quơ)
UÊ (tuế)
UY (tuy)
Vần mở phức : UYA (khuya)
2. Vần đóng :
Có 2 loại tương ứng với 2 cách đóng : đóng bằng bán âm và đóng bằng phụ âm.
a. Vần đóng bằng bán âm I/Y và U/O :
Chỉ khép bớt khẩu hình lại, chứ không đóng hẳn, làn hơi vẫn tiếp tục đi ra theo đường miệng, còn gọi là “thu đuôi” chữ. Có 2 cách thu đuôi :
- Thu đuôi bằng cách nâng lưỡi, bẹt miệng nhờ bán âm I/Y
- Thu đuôi bằng cách rụt lưỡi, tròn môi nhờ bán âm U/O
Thí dụ 2 : Cao vời, phơi phới, yêu tôi đời đời, chơi vơi (trong bài “Khúc Nhạc Cảm Tạ”) ; người giàu đói nghèo, kẻ đói no giàu (trong bài “Ôi Thần Linh Chúa”) …
b. Vần đóng bằng phụ âm cuối M – P, N – T, NH – CH, NG – C :
Các phụ âm cuối này làm cho làn hơi khi phát ra đến cuối chữ thì bị cản lại, bị đóng lại ở môi hoặc lưỡi, khiến làn hơi, nếu muốn ngân tiếp thì phải đi qua đường mũi.
- Đóng bằng 2 môi nhờ các phụ âm M – P : nâng cằm nhẹ nhàng cho 2 môi đụng vào nhau. Hai phụ âm này có thể đi sau tất cả mọi nguyên âm, trừ Ư.
- Đóng bằng đầu lưỡi đưa lên chân răng trên, đồng thời nâng cằm nhẹ nhàng, nhờ các phụ âm N – T. Lưu ý phụ âm đầu “T” cấu âm khác với phụ âm cuối “T”. Hai phụ âm này có thể đi sau mọi nguyên âm.
- Đóng bằng mặt lưỡi đưa lên vòm miệng, nhờ các phụ âm NH – CH, cằm nâng lên nhẹ nhàng, bẹt miệng không khép răng. Hai phụ âm này chỉ đi sau 4 nguyên âm hàng trước E – Ê – I – YÊ : enh ech, ênh êch, inh ich, uyênh uyêch (Thí dụ : vanh vách, đènh đẹch, vênh vếch, thình thịch, huỳnh huỵch, huyênh, khuyếch …). Riêng vần ENH ECH, chính tả ghi lầm là ANH ACH. Khi phân tích ngữ âm cũng như khi phát âm, gặp A trong “anh ach” phải đọc như E.
- Đóng bằng cuống lưỡi đưa lên vòm mềm (hàm ếch mềm), nhờ các phụ âm NG – C, (hơi nâng cằm dưới mà không đóng môi, không khép răng, khẩu hình bên ngoài vẫn mở) khi NG – C đi sau các âm hàng giữa (a-ă-ơ-â-ư), các âm phức (iê, ươ, uô), các âm dài (oo, ôô) và âm hàng trước rộng (e).
- Đóng bằng cuống lưỡi và hai môi nhờ NG – C khi chúng đi sau các âm hàng sau o – ô – u : ong oc, ông óc, ung uc … Cần phải ộc tiếng để tạo khoảng trống trong miệng bằng cách hơi phồng hai má.
Thí dụ : ròng rọc, phong phóc, xồng xộc, hùng hục …
c. Các nguyên tắc xử lý các vần đóng :
- Nói chúng, tất cả các vần đóng bằng bán âm hay phụ âm, đều có thể thu đuôi hoặc đóng sớm khi không cần phải ngân vang, hoặc khi hát những bài dân ca hay bài theo phong cách dân ca.
- Tuy nhiên, có một số vần đóng buộc phải đóng sớm mới rõ lời, phù hợp với đòi hỏi của ngữ âm, dù hát ở cao độ hay cường độ nào cũng vậy. Đó là :
1. Các vần có âm chính là âm ngắn (ă, â) : ăy, ây, ău, âu, âm âp, ăm ăp, ăn ăt, ân ât, ăng, ăc, âng âc.
2. Các vần có âm chính là âm hẹp (i, ư, u) : iu, ưi, ưu, ui, im – ip, um – up, in – it, ưn – ưt, un – ut,  ưng – ưc, ung – uc.
3. Các vần có âm chính là âm hàng trước (e – ê – i – yê) đi với NH – CH : enh ech, ênh êch, inh ich, uynh uych, uyênh uyêch, (khi gặp anh ách là phải đọc như enh ech : đóng sớm).
4. Các vần có âm chính là âm hàng sau (o – ô – ư) đi với NG – C : ong oc, ông ôc, ung uc : đóng sớm bằng phương thức ộc tiếng.
- Các vần đóng còn lại thì có thể đóng từ từ, nhất là khi cần vang tiếng (dấu nhạc ở âm khu cao cần cường độ lớn).
Đóng từ từ là khẩu hình từ độ mở nguyên thuỷ phải dần dần thu đuôi hoặc đóng tiếng bằng cách khép môi, nâng đầu lưỡi, nâng mặt lưỡi hoặc nâng cuống lưỡi từ từ theo thời gian cho phép. Không đứng khựng lại, không dồn từng nấc, mà phải đóng liên tục cho tới khi vần được đóng hẳn ở cuối chỗ phải ngân. Trong phần xử lý cụ thể, ca viên phải định được mình phải đóng hẳn ở dấu nhạc nào, ở phần phách nào. Đây là một kỹ thuật đóng khá khó, cần phải tập luyện nhiều mới nhuyễn và mềm mại được.
Thí dụ 3 :
- Êm dịu khôn xiết (bài Ôi Thần Linh Chúa)
- Đàn hát (réo rắt tiếng hát) … Đến xem (nơi hàng Bê-lem)
- Trông về hang đá Bê-lem … Người đem ân phúc
- Mẹ toả hương thơm ngát (bài Mẹ triển dương của Vinh Hạnh)
- Thánh thánh thánh ! – Bóng ngã trăng chênh …
-         Đêm đông lạnh lẽo … Muôn dân ca tụng … Hoàn vũ khâm sùng …
BẢNG TÓM KẾT CÁC VẦN BUỘC PHẢI ĐÓNG SỚM
  
d. Mấy điểm cần lưu ý :
-                      Các âm cuối ít nhiều đều ảnh hưởng lên độ mở của các âm chính đi trước nó, bằng cách rút ngắn hoặc thu nhỏ lại.
-                      Các phụ âm tắc P – T – CH – C tạo nên những vần trắc chỉ đi với dấu nặng và dấu sắc : tấp nập, sát phạt, khúc nhạc, huých, hịch. Người soạn nhạc nên tránh những vần tắc, nhất là vần có dấu sắc với âm chính là các âm ngắn (ă, â), âm hẹp (i, u, ư) … mà lại phải ngân ở âm vực cao, cần cường độ mạnh như :
     
-                      Trong lối hát cổ truyền của dân tộc, cha ông chúng ta thường dùng các âm i, ư, ơ để ngân nga sau khi đã đọc dứt các vần, kể cả vần mở cũng vậy, hoặc i hi, ư hư, ơ hơ, có khi dùng cả âm a để mở vần.
* Trong dân ca :
+ Một bầy tang tình con nhện (ơ) ấy mấy giăng tơ. (Trống cơm).
+ Voi giấy ơi a voi giấy (ơ) tít mù nó mới lại vòng quanh (ơ) … (Đèn cù).
+ Chung quanh bên vàng mây vàng (ư) … (Trống quân).
+ Nhất quế nhị lan nhất (ư) xinh (i i), nhất xinh nhất lịch (i i I) … (Bài nhất quế nhị lan, Quan họ Bắc Ninh).
* Trong Chèo thường ngân bằng âm i, trong Tuồng ngân bằng ư hư …
* Trong Cổ giáo nhạc Công giáo cũng dùng âm i để ngân nga :
+ Mấy lời vạn phục (i) mấy ngành (a) mấy ngành Mân côi (i i i i) (Tiến hoa mùa thương).
+ Tôi là Tô (i) mà. Tô (i) ma … ở trong là trong xác thịt (i i i i) tựa loài (a la) loài tính (a la) thiêng. (Thánh Tô-ma).

 

Đây chỉ dẫn chứng vài nét thô sơ của lối hát cổ truyền. Người ca hát chuyên nghiệp còn cần đi sâu nghiên cứu các lối hát khác nhau của tổ tiên để áp dụng vào thanh nhạc Việt Nam.
Ngày cập nhật 2014/11/28 Tác giả: Music Faith
XỬ LÝ NGÔN NGỮ VIỆT NAM TRONG THANH NHẠC

Facebook Comments ()

TRUNG TÂM ÂM NHẠC FAITH MUSIC

Cơ sở 1: 224/6 Bùi Thị Xuân, P.03, Q.Tân Bình, Tp.HCM

(Ngã ba Bùi Thị Xuân giao với Trường Sa)

Cơ sở 2: 310/6-8 Ngô Quyền, P.8, Q.10, Tp.HCM)

(Ngã tư Ba tháng Hai - Ngô Quyền, bên hông Nhà thờ Tin Lành Nguyễn Tri Phương)

 

Hotline:
0909.701.484 (Mr. Luân) 
 
Email:
phamhadinhluan@gmail.com
deaconchen88@yahoo.com
TRUNG TÂM ÂM NHẠC FAITH MUSIC © 2017 Thiết kế website bởi Công Ty Gia Hân

BACK TO TOP